Cà vạt (hay Caravat) là gì? lịch sử?

Kiến thức

Written by:

Hôm nay, CYN sẽ mang đến cho bạn Cẩm nang toàn tập về cà vạt để các chàng trai có thể tự tin “biến hóa” diện mạo hàng ngày của mình để trở nên cuốn hút hơn, thanh lịch hơn, cho dù bạn có “diện” chiếc áo sơ mi nào đi chăng nữa.

Cà vạt (hay Caravat) là gì?

Cà vạt hay caravat (gốc tiếng Pháp: cravate) là trang phục phụ trợ gồm một miếng vải dài, thường được làm bằng lụa, được thắt dưới cổ áo với hai đầu để nằm dọc xuống ngực áo, đầu có bản to để ra phía trước, che đi hàng nút áo.
Cà vạt thường được nam giới mặc cùng với áo sơ mi và quần tây trong những dịp cần ăn mặc lịch sự, trang trọng.
Hầu hết những người am hiểu phong cách ăn mặc thời trang cổ điển đều cho rằng cà vạt có nguồn gốc từ thế kỷ 17, trong suốt ba thập kỷ chiến tranh tại Pháp.
Câu chuyện về chiếc cà vạt bắt nguồn từ một chuyến công du tới Paris vào những năm 1660 bởi một trung đoàn từ Croatia. Vua Louis XIV đã bị choáng ngợp bởi những chiếc khăn lụa màu sắc sặc sỡ của các sĩ quan Croatia. Ông bắt đầu đeo chiếc caravat đăng ten từ năm 1946 khi mới bảy tuổi và sau đó cho may phụ kiện này như một món đồ bắt buộc của trang phục hoàng gia.
Như một cách để tưởng niệm cho những người lính Croatian, ông đã đặt cho chúng cái tên “La Cravate” – cách gọi đối với cà vạt vẫn được nhắc đến ở Pháp ngày nay.
Ngày Quốc tế cà vạt được tổ chức vào ngày 18 tháng 10 hàng năm tại Croatia và vài thành phố khác trên thế giới như Dublin, Como, Tokyo, Sydney…

Lịch sử phát triển của caravat

Những chiếc cà vạt sơ khai đầu tiên có diện mạo vô cùng khác biệt với “con cháu” của nó sau này, song chúng có sức sống cực kỳ mạnh liệt, càn quét khắp các ngõ ngách châu Âu trong suốt hơn 200 năm.
Cà vạt mà chúng ta nhìn thấy ngày hôm nay chỉ thực sự được biết đến rộng rãi vào những năm 20 của thế kỷ trước.
Song kể từ đó, chúng cũng không giữ nguyên hiện trạng mà liên tục trải qua vô vàn đổi thay theo thời đại:

1900 – 1909

Cà vạt được coi là phụ kiện cần phải có đối với phái mạnh trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ trước. Phổ biến nhất vẫn là những chiếc cà vạt có nguồn gốc từ đầu thế kỷ 17 đước mang đến Pháp từ cảm hứng về trang phục người Croatian.
Điểm khác biệt đáng kể chính là cách thắt.
Hai thập kỷ trước đó, thắt cà vạt theo kiểu Four in Hand đã được sáng tạo ra với một nút thắt duy nhất. Dù sau đó có nhiều kiểu thắt khác ra đời, song Four in hand vẫn là cách thắt cổ điển nhất của mọi thời đại. Nó được sử dụng nhiều nhất, bởi vì nó rất đơn giản để buộc. Kiểu thắt này áp dụng tốt cho hầu hết các loại cà vạt và với gần như tất cả các loại cổ áo sơ mi cũng như phù hợp với dáng người khác nhau.
Hai phụ kiện đeo cổ khác cũng khá phổ biến trong thời gian này là bow-tie (thắt nơ con bướm) và ascots-tie (thường được yêu cầu với trang phục ban ngày tại Anh).

1910 – 1919

Thập kỷ thứ hai của thế kỷ 20 đánh dấu bước thụt lùi của phụ kiện đầy tính trang trọng và hình thức này bởi xu hướng thời trang Casual nổi lên như một lẽ tất yếu với những điểm mạnh nổi bật: thoải mái, tiện dụng và vừa vặn.
Cho đến cuối thập kỷ, chiếc cà vạt đã có những biến đổi đáng kể gần hơn với diện mạo của cà vạt ngày nay.

Cà vạt thời kỳ này vẫn to như một chiếc tạp dề và những người có chiều cao khiêm tốn luôn trốn tránh việc đeo chúng trước ngực, lo sợ mình trở thành trò cười cho thiên hạ.

1920 – 1929

Những năm 20 là bước ngoặt quan trọng đối với cà vạt nam giới. Một người thợ may ở New York đã sáng tạo ra kiểu cà vạt ba mảnh thay thế cho cà vạt một mảnh ngày xưa, vẫn giữ nguyên kiểu dáng nguyên thủy, đồng thời tạo điều kiện để phái mạnh thỏa sức sáng tạo những kiểu thắt khác nhau.
Thêm vào đó, lần đầu tiên, cà vạt kẻ sọc “lộ diện” và “nổi lên” như một cơn sốt làm nên nét lịch lãm đối với phái mạnh.

1930 – 1939

Trong suốt thòi gian làn sóng nghệ thuật Art Deco những năm 30, cà vạt xuất hiện rộng rãi và thường có mặt trong những kiểu mẫu và thiết kế khác nhau của trường phái này.
Đàn ông thời gian này đã rút ngắn độ dài cà vạt và thường thắt caravat theo kiểu Windsor Knot – một kiểu thắt cà vạt mà công tước Windsor đã phát minh ra trong thời điểm này.

1940 – 1949

Thời gian này không chứng kiến nhiều sự thay đổi nổi bật về kiểu dáng của cà vạt có lẽ là do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ hai khiến người ta lo lắng nhưng thứ quan trọng hơn là thời trang hay quần áo.
Khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1945, cảm hứng thời trang bắt đầu nhen nhóm trở lại. Màu sắc cà vạt thời kỳ này đã đậm nét hơn, đích thị là điểm nhấn cho trang phục đen trắng quen thuộc của nam giới.
Mẫu mã kiểu dáng đa dạng hơn, thậm chí một nhà bán lẻ có tên Grover Chain Shirt đã tạo ra một bộ sưu tập cà vạt cho nữ giới.

1950 – 1959

Khi nhắc đến lịch sử phát triển của cà vạt, thời kỳ những năm 50 nổi tiếng với sự ra đời của cà vạt dạng bản nhỏ vừa vặn hơn với trang phục. Thêm vào đó, những thợ may cũng thử nghiệm với những chất liệu cà vạt mới mẻ hơn.

Ban nhạc huyền thoại The Beatles ủng hộ loại caravat bản nhỏ kiểu mới, bất chấp những tranh cãi khen chê nổ ra xung quanh nó.

1960-1989

Khác với sự thay đổi trong thập kỷ trước, thời gian này giới thời trang lại được chiêm ngưỡng những thiết kế cà vạt với kích cỡ “khủng” hơn bao giờ hết với bề ngang lên đến hơn 13 centimet (cm).

Loại cà vạt này còn được gọi với cái tên Kipper-tie.

1989 – 1999

Đến năm 1990 phong cách thiết kế cà vạt bản lớn đã nhạt dần. Cà vạt trở nên đồng đều hơn với chiều rộng từ 9.5 centimet – 10 centimet.
Phụ kiện phổ biến nhất vẫn là cà vạt có họa tiết hoa lá sắc nét và paisley (họa tiết có đường cong của cánh hoa) – một phong cách đến ngày này đã làm thay đổi diện mạo thiết kế và trở thành họa tiết vô cùng phổ biến ngày nay.

2000 – Nay

Ngày nay cà vạt đa dạng với bề rộng, đường cắt, họa tiết và kiểu dáng khác nhau. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người, cho phép các chàng trai thỏa sức lựa chọn tùy theo phong cách riêng của mình.
Bề rộng tiêu chuẩn của một chiếc cà vạt là từ 8,2 centimet đến 8,9 centimet.
Kiểu thắt chặt ngày càng trở nên phổ biến hơn vào năm 2011 và trong năm tiếp sau đó đã chứng kiến một xu hướng họa tiết hoa lá và paisleys nổi lên mạnh mẽ.